Đang tải... Vui lòng chờ...
Tin tức
Báo cáo tài chính quý 3 năm 2017

Báo cáo tài chính quý 3 năm 2017

Hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính cho năm tài chính Công ty CP nước sạch Bắc Ninh

Hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính cho năm tài chính Công ty CP nước sạch Bắc Ninh

Gia hạn thời gian công bố BCTC bán niên năm 2017 của Công ty cổ phần nước sạch Bắc Ninh

Gia hạn thời gian công bố BCTC bán niên năm 2017 của Công ty cổ phần nước sạch Bắc Ninh

kết quả xét nghiệm nước tháng 08/2017 tại Nhà máy cấp nước thị trấn Thứa- Lương Tài

kết quả xét nghiệm nước tháng 08/2017 tại Nhà máy cấp nước thị trấn Thứa- Lương Tài

CÔNG BỐ THÔNG TIN TRỞ THÀNH CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

Công ty Cổ phần Nước sạch Bắc Ninh xin trân trọng thông báo: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có Công văn số 5023/UBCK-GSĐC ngày 18/07/2017 về việc chấp thuận hồ sơ đăng ký Công ty đại chúng của Công ty cổ phần Nước sạch Bắc Ninh. Công ty cổ phần Nước sạch Bắc Ninh xin công bố thông tin về việc trở thành Công ty đại chúng

Lượt truy cập

Áp dụng quyền lực (10/9)

Chương 5

ÁP DỤNG QUYỀN LỰC

Để lãnh đạo từ một vị trí của quyền hạn đòi hỏi việc hiểu biết cách thức để nhắm đến và triển khai quyền lực mà đến cùng vị trí đó. Quyền hạn có thể được chia thành hai loại: chính thức và không chính thức. Với quyền hạn chính thức đến từ các quyền lực khác nhau của chức vụ, và với quyền hạn không chính thức đến từ quyền lực ảnh hưởng đến thái độ và hành vi vượt quá sự tuân thủ. Quyền hạn chính thức được trao bởi vì người nắm chức vụ hứa hẹn đáp ứng một tập hợp những kỳ vọng rõ ràng (các bản mô tả công việc, sự uỷ nhiệm hợp pháp), trong khi quyền hạn không chính thức đến từ việc hứa hẹn đáp ứng những kỳ vọng mà thường là ngầm ẩn (các kỳ vọng của sự tin cậy, khả năng, sự lễ độ).

Mối quan hệ giữa những loại hình quyền hạn này về bản chất được thấy trong trường hợp về một viên chức được bầu chọn. Trước khi bà được bầu, thì một ứng viên sẽ tập trung vào việc gia tăng quyền hạn không chính thức của mình- sự kính trọng, sự khâm phục, và sự tin cậy của những người uỷ nhiệm về sau cho ứng viên đó.  Tuy nhiên, thậm chí sau khi bà đã được bầu vào chức vụ này và những quyền lực đi kèm theo, thì bà vẫn phải giám sát quyền hạn không chính thức của mình – sự nổi tiếng của bà- bởi vì đây vẫn là một nguồn vô cùng quan trọng cho quyền hạn của mình. Điều này sẽ quyết định không chỉ những triển vọng được tái bầu chọn của mình mà còn khả năng của bà trong việc gây ảnh howngr đến các viên chức đồng nghiệp trong khi đang tại chức. Nếu các đồng nghiệp của bà thấy rằng bà yếu đuối, thì họ có thể bỏ mặc bà một cách dễ dàng hơn.

Vì vậy, quyền hạn không chính thức của bà được tạo ra không chỉ từ sự nổi tiếng của bà trong số những người uỷ nhiệm cho mình, mà còn từ sự kính rọng, tín nhiệm, khâm phục, và e ngại của những đồng nghiệp. Giành được quyền lực đồi hỏi rằng bà cũng phải giành được quyền hạn không chính thức từ những đồng minh chính trị của mình. Liệu họ có ủng hộ bà nhiều hay không tuỳ thuộc vào ước lượng riêng của họ về điều bà có thể làm cho họ và vì họ. Trong một phạm vi lớn, thì bà giành được sự ảnh hưởng với họ qua việc mở rộng quyền hạn của mình một cách không chính thức thậm chí với những người uỷ nhiệm cho mình. Nếu họ nghĩ rằng bà có một điều gì đó đặc biệt, thì các đồng nghiệp của bà sẽ phải chú ý đến. Họ sẽ lắng nghe bởi vì những người uỷ nhiệm cho họ cũng đang lắng nghe.

Sự uỷ nhiệm chính thức mang theo mình các quyền lực của một chức vụ, nhưng sự uỷ nhiệm không chính thức mang theo nó một quyền lực khó nhận thấy nhưng đáng kể trong việc mở rộng khả năng của một người vượt quá các giới hạn của bản mô tả công việc. Quyền hạn chính thức thay đổi bằng những bước nhảy về ngạch, bậc ở những thời điểm riêng biệt của thời gian khi những sự uỷ nhiệm chính thức cho một hành động được trao cho: tại lễ tuyên thệ, thuê mướn, sa thải, ký kết các điều luật, cấp một giấy phép. Trái lại, quyền hạn không chính thức thay đổi thường xuyên do sự nổi tiếng và danh tiếng nghề nghiệp tăng lên và giảm xuống.

Ví dụ, là một nhà quản lý công, William Ruckelshaus đã phải đáp ứng sự uỷ nhiệm dành cho một nhà quản trị của Cơ quan Bảo vệ môi trường (EPA) được quy định bởi Quốc hội nhằm bảo vệ cho quyền hạn của ông. Nếu ông ta vi phạm sự uỷ nhiệm đó, thì ông có thể chịu rủi ro của sự xúc phạm và nổi loạn của công chúng, như trường hợp đã xảy ra cho người tiền nhiệm của ông, Anne Gorsuch Burford.

Ruckelshaus đã phải trấn an công chúng rằng ông có thể cũng sẽ đáp ứng được những kỳ vọng của họ. Khi không giành lại được sự tín nhiệm của công chúng trong cơ quan này thì ông biết rằng ông có thể sẽ có rất ít quyền hạn không chính thức mà cùng với nó giúp ông thuyết phục các bên quan tâm chú ý đến những kết luận và quyết định của cơ quan này và hợp tác với họ. Vì vậy, quyền hạn không chính thức mà ông có cũng có ý nghĩa nhiều như quyền hạn chính thức từ Quốc hội. Khi không có quyền hạn không chính thức, ông có thể sẽ không thành công trong việc giải quyết các vấn đề gây tranh cãi.

Quan hệ giữa quyền hạn chính thức và không chính thức cũng được minh hoạ bởi mối quan hệ giữa Barbara Rarsons với các bệnh nhân của mình. Qua việc lựa chọn bà, thì các bệnh nhân đã chính thức đồng ý về một sự trao đổi các dịch vụ với sự trả công. Họ uỷ nhiệm cho Rarsons làm bác sỹ của mình. Bao quanh và làm vững chắc thêm giao dịch chính thức đó, thì pháp luật đặt ra những tiêu chuẩn cho việc chăm sóc y tế. Nếu Parsons bỏ mặc các bệnh nhân của mình theo những tiêu chuẩn đó, thì bà có thể sẽ chịu rủi ro của một vụ kiện về sự sơ xuất. Nếu bà bị rút giấy phép của mình do thất bại trong việc thoả mãn những kỳ vọng của uỷ ban cấp phép tiểu bang, thì bà có thể sẽ bị buộc đóng cửa phòng khám của mình.

Tuy nhiên, phần lớn quyền lực của Parsons đến không phải từ các thoả thuận chính thức với các bệnh nhân của bà cũng không phải từ uỷ ban cấp phép tiểu bang. Quyền lực trong việc vận động các bệnh nhân của mình đối mặt với những vấn đề hết sức khó khăn đến từ quyền lực của quyền hạn không chính thức được trao bởi sự tín nhiệm của họ. Nếu phong cách hay những khuyến nghị của bà làm thất vọng sự tín nhiệm đó, thì các bệnh nhân của bà có lẽ rời bỏ bà và tìm một người bác sĩ khác. Hoặc, nếu việc từ bỏ là quá khó khăn bởi vì, ví dụ, các phí tổn của việc rời bỏ tổ chức bảo vệ sức khoẻ của Parsons là quá cao, thì họ cũng có lẽ lờ đi các toa thuốc của bà.

Quyền hạn như là một nguồn lực cho sự lãnh đạo

Hãy khảo cứu sâu hơn về các trường hợp gia đình Buchanan và Tacoma để phát triển một khuôn khổ cho việc đánh giá các tài sản chiến lược cho việc huy động công việc thích ứng. Tôi tóm lược các trường hợp này trong bối cảnh của tình huống về y tế. Trong trường hợp này, quyền hạn chính thức và không chính thức của Parsons đã tạo cho bà một phổ các năng lực.

Thứ nhất, mối quan hệ của bà với gia đình Buchanan đã cung cấp một môi trường che chở cho việc kìm chế những sự căng thẳng trong các nỗ lực thích ứng của họ. Bà được kỳ vọng chìa ra một đôi tay mà có thể giúp chống đỡ gánh nặng này. Đến lượt mình, việc chống đỡ gánh nặng cho phép bà có thể sử dụng các hình thức khác của quyền lực mà đến cùng với quyền hạn của mình. Môi trường che chở cung cấp nền tảng cho mọi điều khác mà bà thực hiện.

Thứ hai, Parsons có thể ra lệnh và chỉ đạo sự chú ý. Gia đình này tìm đến bà để chẩn đoán một vấn đề và một kế hoạch cho việc giải quyết vấn đề đó.

Thứ ba, bởi vì bà được kỳ vọng sẽ thực hiện các quyết định về phương hướng, cho nên Parsons được trao cho sự tiếp cận đến thông tin – một điểm lợi thế mà từ đó có thể xem xét kỹ cuộc sống của gia đình này. Họ tự bộc lộ bản thân mình cho bà.

Thứ tư, như là kết quả của sự tiếp cận đặc quyền đó, Parsons có một sự kiểm soát đối với dòng thông tin. Bà có thể xâu chuỗi các sự kiện về sự đau ốm hay các vấn đề của cái chết căn cứ trên sự đánh giá của mình về khả năng hồi phục của gia đình này.

Thứ năm, sự chú ý và tiếp cận đến thông tin mang lại cho bà quyền lực sắp xếp các vấn đề - để ảnh hưởng đến phạm vi của những sự thảo luận của các thành viên trong gia đình với nhau. Họ nhìn vào bà để tìm kiếm sự thấu hiểu.

Thứ sáu, bởi vì bà được kỳ vọng duy trì sự trật tự, cho nên bà được trao cho nhiều phương tiện để dàn xếp xung đột và kìm chế sự náo loạn. Ví dụ bà có thể sắp xếp các cuộc gặp gỡ gia đình để thảo luận các vấn đề có khả năng gây ra bất đồng. Và bà có thể phân giải những tranh cãi giữa những bạn đồng nghiệp của mình tại một nơi cách xa các bệnh nhân nhằm giữ cho những sự bất đồng về mặt kỹ thuật này không làm xao nhãng các bệnh nhân.

Thứ bảy, như là một hệ quả tất yếu của việc kìm chế sự náo loạn, quyền hạn đã tạo cho Parsons quyền lực để lựa chọn quá trình ra quyết định, có thể là mang tính tư vấn, đôc đoán, liên ứng, hoăc một biến thể nào đó.

Các quyền lực của bà là có giới hạn, nhưng những quyền lực này là các công cụ mà Parsons phải làm việc cùng.

Quản lý môi trường che chở

 

Gia đình Buchanan đã cho Bác sĩ Parsons quyền hạn để lưu giữ họ lại trong một quá trình điều trị. Không những bà có thể, theo nghĩa đen, nắm giữ đôi tay họ nhưng về mặt tình cảm bà có thể nắm giữ sự chú ý của họ. Gia đình Buchanan đã làm cho bà trở thành một phần hết sức quan trọng của môi trường che chở mà bên trong đó có thể kìm chế và chuyển hoá các áp lực mà họ tạo ra bởi những nỗ lực thích ứng của mình.

Thuật ngữ “môi trường che chở” có nguồn gốc từ phân tâm học nhằm mô tả mối quan hệ giữa nhà trị liệu và bệnh nhân. Nhà trị liệu “che chở” bệnh nhân trong một quá trình học tập về phát triển theo một cách thức mà có một số điểm tương đồng với cách mà một ông bố hay bà mẹ che chở các đứa con mới sinh và đang trưởng thành của mình. . Đối với một đứa trẻ, môi trường che chở đóng vai trò như là một cái thùng chứa cho những bước phát triển, các vấn đề, những cơn khủng hoảng, và những sự căng thẳng của việc lớn lên. Trong vòng tay che chở của cha mẹ, thì sự lớn lên của đứa trẻ có thể được bảo vệ và hướng dẫn. Đối với bệnh nhân đang được chữa trị bằng tâm lý, thì mối quan hệ giữa nhà trị liệu là nơi để kiểm tra và thực hiện sự tiến bộ trong các vấn đề hết sức khó khăn. Để có thể hiệu quả, thì các nhà trị liệu phải nhấn mạnh và hiểu rõ những sự vật lộn của các bệnh nhân của mình để cho các bệnh nhân có thể bắt đầu thấy rõ ràng hơn bản chất của những vấn đề của mình. Điều này đòi hỏi cả kiến thức về kỹ thuật lẫn sự thực hiện quá trình. Theo quan điểm của tôi, nhà trị liệu giúp cho bệnh nhân chuyển biến các vấn đề thuộc loại III thành những vấn đề loại II có tính riêng biệt hơn và dễ dàng xác định hơn. Ví dụ, một người đàn ông mà ban đầu than phiền về việc bị làm cho cảm thấy chán nản mọi việc biết rằng anh ta có những lý do cụ thể để nổi giận, thất vọng, và buồn bã.

Để phục vụ cho các mục đích của mình, tôi đã mở rộng phạm vi sử dụng của thuật ngữ “ môi trường che chở” vượt quá các mối quan hệ cha mẹ và về việc trị liệu. Một môi trường che chở bao gồm bất cứ mối quan hệ nào mà trong đó một bên có quyền lực để nắm giữ sự chú ý của bên kia và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thích ứng. Tôi áp dụng định nghĩa này cho bất kỳ mối quan hệ nào mà có một nhiệm vụ hay cơ hội về phát triển – bao gồm các mối quan hệ giữa những nhà chính trị và các chính thể của mình, các quốc gia với những quốc gia khác, các huấn luyện viên với đội của mình…

Xem tiếp truy cập: \\bacninhserver\Thuviendulieu\Tai lieu ve quan ly

In văn bản